[Góc chuyên môn] An toàn thực phẩm với Doanh nghiệp thực phẩm SMEs ở Việt Nam – Tầm quan trọng và những Thách thức

28 Tháng Bảy 2013

An toàn thực phẩm với Doanh nghiệp thực phẩm SMEs ở Việt Nam Tầm quan trọng và những Thách thức

Ths. Nguyễn Thị Kim Dung

Trung tâm Đào tạo Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng

Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường và Chất lượng

Các chuyên gia y tế nhận định rằng “Mức độ vệ sinh an toàn thực phẩm của các doanh nghiệp sản xuất thực phẩm vừa và nhỏ ở Việt Nam nếu được nâng cao sẽ tác động rất lớn tới tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm của cả nước”. Vậy các doanh nghiêp vừa và nhỏ là được định nghĩa như thế nào?

Theo Điều 3, Nghị định chính phủ 90/2001/NĐ-CP định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người.

Theo số liệu của Tổng cục thống kê Việt Nam năm 2006, trong toàn quốc có tổng cộng 2136 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, rừng và thủy sản. Trong đó 45 doanh nghiệp có 1-3 lao động, 350 doanh nghiệp có 4-9 lao động, 1158 doanh nghiệp có 10-50 lao động, 231 doanh nghiệp có 51-100 lao động và 352 doanh nghiệp có trên 100 lao động. Không có số liệu chính xác về số doanh nghiệp có trên 300 lao động. Số doanh nghiệp có trên 100 lao động chỉ chiếm 16.5%. Như vậy số doanh nghiệp có trên 300 lao động nhỏ hơn nhiều.

Thái Lan tuy là đất nước có nền kinh tế phát triển hơn Việt Nam nhưng lại có thành phần kinh tế tương tự. Theo một báo cáo năm 2002, tổng số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thực phẩm là 57217. Trong số đó, chỉ có 1% (444 doanh nghiệp) là được xếp vào loại lớn, 3% (1763 doanh nghiệp) vừa 96% (55010 doanh nghiệp) nhỏ. Như vậy số doanh nghiệp thực phẩm vừa và nhỏ tại Thai Lan năm 2002 chiếm 99% tổng số doanh nghiệp thực phẩm.

Như vậy từ con số trên ta cũng có thể dự đoán số doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam cũng không ít hơn 95% tổng số các doanh nghiệp. Mặc dù hầu hết các doanh nghiệp thực phẩm vừa và nhỏ ở Việt Nam không xuất khẩu, nhưng nhóm doanh nghiệp thực phẩm này tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế trong nước và địa phương, tới sức khỏe của người tiêu dùng trong nước và do đó trực tiếp tác động tới sức khỏe cộng đồng. Do vậy nâng cao mức độ vệ sinh an toàn thực phẩm tại nhóm doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm vừa và nhỏ là một nhiệm vụ vô cùng thiết yếu để bảo vệ sức khỏe cộng động và người tiêu dùng Việt Nam.

image001

Một giải pháp hiệu quả cho vấn đề này là trợ giúp, tư vấn, hướng cho các doanh nghiệp này áp dụng một hệ thống quản lý an toàn thực phẩm. Các lựa chọn hệ thống quản lý an toàn thực phẩm toàn diện hiệu lực trên thế giới hiện nay là ISO 22000, BRC, IFS và SQF. ISO 22000 là tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm quốc tế do tổ chức ISO, tổ chức tiêu chuẩn quốc tế phát triển; BRC là tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm do hội đồng bán lẻ Anh quốc phát triển; IFS là tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm do hội đồng bán lẻ Đức, Pháp, Ý phát triển và SQF là tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm do viện Food Marketing Institute của Mỹ phát triển. Khi các doanh nghiệp tiến hành áp dụng các mô hình quản lý hệ thống trên và có chứng chỉ, sản phẩm tạo ra chắc chắn sẽ được chấp nhận rộng rãi trên thị trường quốc tế. Ngoài ra còn có các mô hình quản lý, kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm khác là GMP, GAP, GHP và HACCP. Đây là những mô hình quản lý nhỏ hơn phục vụ cho những mục tiêu và phạm vi cụ thể. GMP (Good Manufacturing Practices) là chương trình thực hành sản xuất tốt, đưa ra các tiêu chuẩn cụ thể về thiết kế/ vệ sinh nhà xưởng, trang thiết bị, quá trình chế biến, bảo quản và phân phối. GAP (Good Agricultural Practices) là chương trình thực hành nông nghiệp tốt, đưa ra các tiêu chuẩn cụ thể, hướng dẫn người trồng trọt từ khâu trước gieo trồng, gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch, bảo quản sản phẩm hoa và rau quả để đảm bảo tạo ra những sản phẩm an toàn, bổ dưỡng và hợp vệ sinh. GHP (Good Hygiene Practices) là chương trình thực hành vệ sinh tốt, đưa ra các tiêu chuẩn về vệ sinh cho nguồn nước sử dụng, trang thiết bị chế biến, vệ sinh cá nhân, sức khỏe công nhân, sử dụng hóa chất, xử lý chất thải và thu hồi sản phẩm. HACCP (Hazard Analysis Critical Control Points), là chương trình phân tích và phòng ngừa và ngăn chặn các nhân tố gây hại cho sức khỏe người tiêu dùng có trong sản phẩm thực phẩm một cách chặt chẽ và hiệu quả.

Tuy nhiên có rất nhiều thách thức mà các doanh nghiệp thực phẩm vừa và nhỏ Việt Nam sẽ gặp phải trong quá trình triển khai các hệ thống quản lý an toàn thực phẩm.

(Theo dõi trong phần tiếp theo)